Lại bàn về: Người Việt khôn ở đâu, dại ở đâu?

Hà Văn ThùyTác giả (2010)
06:38' CH - Thứ sáu, 29/04/2016

Đã nhiều người lên án nền kinh tế tiểu nông của người Việt. Không hiểu sao, cho tới nay vẫn chưa ai đưa ra một định nghĩa nghe được? Theo thiển ý thì đó phải chăng là cái phương thức sản xuất giúp dân tộc Việt hình thành và tồn tại từ hàng vạn năm nay? Đúng là nó chậm chạp, năng suất thấp, sản lượng nhỏ…Nhưng không thể phủ nhận là nó phù hợp với hoàn cảnh đất chật người đông. Năng suất thấp, nhưng chi phí ít, tận dụng mọi yếu tố sẵn có từ phân, rác, lao động trẻ con… kinh tế “tiểu nông” trở nên hiệu quả. Nó nuôi sống nhiều người, hạn chế khoảng phân cách giầu nghèo và bảo vệ tốt môi trường! Mới đây tôi đọc ở đâu đó một nhà báo phương Tây viết, đại ý: “Đừng dạy những người nông dân đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo cách làm ra hạt lúa!” Nhà báo nói đúng. Tại nhiều nơi người dân Việt đang xây dựng nền kinh tế nông nghiệp trong sự hòa hợp tuyệt vời giữa con người, sản xuất và môi trường mà có thể tương lai sẽ gọi là nền kinh tế minh triết!

Xem thêm:


Tác giả Minh Dũng đặt vấn đề: “Người Việt có thông minh không?” * thì đó là chuyện bình thường. Nhưng khi ông Nguyễn Hoàng Đức viết “Người Việt khôn hay dại?** thì không còn bình thường nữa. Một cách đặt vấn đề vô nghĩa lý! Khôn, dại là chuyện của cá nhân, của con người cụ thể. Không ai nói dân tộc này khôn, dân tộc kia dại. Có thể nói: “Người Irak dại dột khi xâm lăng Cô-oet!” Nhưng “người Irak” ở đây dùng để chỉ nhà cầm quyền, không ai hàm hồ nói dân tộc Irak dại dột. Cách đặt vấn đề không rõ ràng khiến cho lý giải của ông bất cập!

Xin đọc:
“Tại sao nước ta lớn vậy, mà nhìn chung vẫn thấy vô vàn các điều bất cập, nhếch nhác, nghèo hèn, lộn xộn? Tất cả điều đó chắc chắn là sản phẩm của bộ não, tức ý thức, tức trí khôn, chứ không phải sản phẩm của cơ thể - tức da thịt.

“Tư tưởng bao giờ cũng dẫn đến hành động. Tư tưởng chưa trau dồi lớn, làm sao có hành động lớn? Đó rõ ràng là bằng chứng về việc chúng ta là nước đông dân mà không phải là nước lớn. Bởi vì người lớn, nước lớn thì phải có suy nghĩ lớn, những dự định lớn, những chương trình vĩ mô. Nhưng ngay từ trong tư tưởng chúng ta chưa lớn, nên không thể nào sản sinh cái lớn được.”

“Một con người không phát triển trí tuệ không lớn lên, một dân tộc không dựa trên trí tuệ thì mãi mãi còn bé nhỏ.”

“Trí tuệ chỉ có mỗi một con đường thể hiện, đó là ngôn ngữ.”

“Nhưng trong đời sống, vì hám theo đuổi tính vụ lợi hơn chân lý, người Việt thường áp dụng: "Người khôn ăn nói nửa chừng/ Làm cho kẻ dại nửa mừng nửa lo". Rồi người ta hướng đến sự khôn ranh: "Khôn ăn người, dại người ăn". Hoặc tìm cách nói nước đôi để bảo toàn lấy mình: "Làm trai cứ nước hai mà nói". Dẫn đến "quan tám cũng ừ, quan tư cũng gật".

‘Tại sao người Việt lại có lối sống, lối thể hiện, cũng là tìm cách che giấu nước đôi như vậy? Đó là sự khiếp nhược vì sống quá lâu trong chế độ phong kiến. Sợ nói không đúng thì không phải đầu cũng phải tai, nên thà nói nước đôi để chuồn bề nào cũng tiện. Đó cũng là lối nói của mặc cảm "nô tài".

“Nước chúng ta là tam nông: Nông thôn, nông nghiệp, nông dân. Vì tư duy bé nên chúng ta làm ăn cò con. Vì ít thực phẩm nên chúng ta thường ăn vặt, dẫn đến khôn vặt, rồi có cả gian vặt nữa. Từ đặc điểm tam nông, chúng ta còn mắc các chứng: Tiểu nông, tiểu trí, và tiểu xảo”.

“Có một mệnh đề là, nếu người Việt thông minh thì chắc hẳn chúng ta đã có tầm vóc của một quốc gia hùng cường, nhưng rõ ràng chúng ta còn đang yếu về rất nhiều mặt. Rõ ràng đa số chúng ta mới khôn vặt, khôn trốn việc, khôn láu cá ăn người, chứ không phải cái khôn ngoan di sơn đảo hải như người Việt mong muốn và ao ước "có cứng mới đứng đầu gió"…

Xin lạm bàn đôi điều.

1. Người Việt có tư tưởng lớn không?

Ông Nguyễn Hoàng Đức viết: ““Một con người không phát triển trí tuệ không lớn lên, một dân tộc không dựa trên trí tuệ thì mãi mãi còn bé nhỏ.” Như vậy phải chăng theo ông, người Việt không có trí tuệ? Và phải chăng “Trí tuệ chỉ có mỗi một con đường thể hiện, đó là ngôn ngữ.”?

Để bàn chuyện này không thể không trở về lịch sử.

Mười ngàn năm trước, khi tổ tiên những Plato, Aristoteles… vừa thoát khỏi băng hà để nuôi con cừu con dê đầu tiên thì khắp cõi Đông Á, người Việt đã xây dựng nền văn minh nông nghiệp rực rỡ. Giáo sư Paul C. Mangelsdorf, nhà thực vật học của Đại học Harvard danh tiếng nói rằng: “Không có nền văn minh nào xứng đáng với tên gọi đó cho tới khi phát hiện ra nông nghiệp trồng ngũ cốc.” Nhưng trước khi phát minh cây kê, cây lúa ít nhất 5000 năm, tổ tiên chúng ta đã sáng tạo Dịch, một cuốn “kinh vô tự” gói cả càn khôn vũ trũ vào trong 64 quẻ, với 264 vạch Âm, Dương! Trước khi phát minh chữ viết, những người chỉ dùng hai ký hiệu mà toán học hiện đại gọi là hệ nhị phân để mã hóa thành công bản thể cùng sự vận hành của cả ba cõi Trời, Đất, Người lại không phải là vĩ đại sao? Và như vậy, phải đâu chữ viết là phương tiện duy nhất chuyển tải tư tưởng? Dùng ngôn ngữ (chữ viết) để truyền đạt tư tưởng là giai đoạn sau của văn minh nhân loại! Khái quát như trên chứng tó ông Đức biết một mà không biết hai!

Xin hỏi: thế nào là tư tưởng lớn? Phải chăng tư tưởng lớn là những tư tưởng mang tầm vũ trụ, tầm nhân loại? Nếu vậy thì cũng từ xa xưa, trước khi thành bang Ethen thành lập và văn minh Hy Lạp ra đời, tổ tiên ta đã biết và tuân thủ vũ trụ quan “tham thiên, lưỡng địa”: vũ trụ tạo thành bởi Âm và Dương, trong sự hài hòa 3 Dương và 2 Âm! Một nhân sinh quan: “Nhân chủ, Thái hòa, Tâm linh”. Trong ba nhân tố tạo thành vũ trụ là Thiên, Địa, Nhân thì con người là trung tâm, là chủ. Với cương vị đó, con người phải sống hài hòa (thái hòa) với nhau và với tự nhiên. Đồng thời con người không phải là con người duy vật vô hồn mà là con người tâm linh, sống cuộc đời trần thế đồng thời linh ứng với cõi siêu nhiên…

Loài người xuất hiện năm triệu năm và Người Khôn ngoan Homo sapiens chúng ta 160.000 năm sống trên Trái đất đã sáng tạo toàn bộ tư tưởng lớn của nhân loại. Khoa học có thể phát hiện những hành tinh mới, những hạt vật chất mới nhưng sẽ chẳng bao giờ tìm ra những tư tưởng mới! Những nhà vật lý hôm nay mải miết săn đuổi hạt cơ bản để xem vật chất là sóng hay hạt thì từ 2500 năm trước, Lão Tử đã đứng chờ họ với tiên đề “Đạo khả đao phi thường đạo!”

Có thể nào so sánh những điều kỳ diệu tuyệt với như thế với những tư tưởng triết học vô hồn phương Tây?

2. Người Việt có sáng tạo không?

Khi thèm muốn những thành tựu như đồng hồ Thụy sĩ, những cuộc chinh phục thế giới của người Bồ Đào Nha, người Tây Ban Nha… ông Đức quên hay không biết tới Thái Luân, người làm ra giấy, rồi Nguyễn An xây dựng Cố Cung cùng nhiều nhiều những tài năng Việt được tác giả Uông Đại Nhậm đời Minh viết trong cuốn Bách Việt tiên hiền chí!
Angkor là kỳ quan thế giới, là niềm say mê của những nhà nghiên cứu và hàng triệu du khách nhưng liệu ông Đức có biết rằng đó là tai họa của dân tộc Khmer? Ngày nay người ta biết rằng, nhiều nghìn năm trước Công nguyên, Đông Nam Á là địa bàn sinh sống của người Việt (nhóm loại hình Australoid) do tộc Lạc Việt lãnh đạo về ngôn ngữ và xã hội. Qua trống đồng Lạc Việt, các Vua Hùng thể hiện quyền năng của mình, đảm bảo một cộng đồng Đông Á phát triển an bình. Nhưng khi nhà nước Văn Lang sụp đổ, do mất yếu tố chủ đạo, các thủ lĩnh khu vực lập những vương quốc riêng. Người Khmer tiếp nhận văn hóa Ấn Độ Aryan du mục với tôn giáo đa thần, xã hội đẳng cấp và chữ Sankrit. Vương triều Angkor xây dựng những đền đài trên mồ hôi và xương máu của hàng vạn nô lệ đồng thời tàn phá những khu rừng mênh mông. Sụt giảm nhân số và thiếu nước do phá rừng đẩy vương triều sụp đổ, đất Khmer trở thành mồi ngon cho người Thái. Không chỉ thế, di họa của tập quán săn bắt, buôn bán nô lệ tàn phá cộng đồng Khmer đến cuối thế kỷ XIX…

Chiêm ngưỡng Angkor nhưng tôi lại không muốn số phận như họ mà cảm ơn tổ tiên xây đắp cho con cháu hệ thống đê vững chãi, những mái đình chùa gần gũi ấm cúng và điều tuyệt vời nhất là trên đất nước này không có nạn buôn nô lệ!

3. Về kinh tế tiểu nông

Trước ông Nguyễn Hoàng Đức đã nhiều người lên án nền kinh tế tiểu nông của người Việt. Nhưng không hiểu sao, cho tới nay vẫn chưa ai đưa ra một định nghĩa nghe được? Xin nói thật lòng, người đang viết những dòng này cũng mù tịt! Theo thiển ý thì đó phải chăng là cái phương thức sản xuất giúp dân tộc Việt hình thành và tồn tại từ hàng vạn năm nay? Đúng là nó chậm chạp, năng suất thấp, sản lượng nhỏ…Nhưng không thể phủ nhận là nó phù hợp với hoàn cảnh đất chật người đông. Năng suất thấp, nhưng chi phí ít, tận dụng mọi yếu tố sẵn có từ phân, rác, lao động trẻ con… kinh tế “tiểu nông” trở nên hiệu quả. Nó nuôi sống nhiều người, hạn chế khoảng phân cách giầu nghèo và bảo vệ tốt môi trường! Mới đây tôi đọc ở đâu đó một nhà báo phương Tây viết, đại ý: “Đừng dạy những người nông dân đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo cách làm ra hạt lúa!” Nhà báo nói đúng. Tại nhiều nơi người dân Việt đang xây dựng nền kinh tế nông nghiệp trong sự hòa hợp tuyệt vời giữa con người, sản xuất và môi trường mà có thể tương lai sẽ gọi là nền kinh tế minh triết!

Xin hỏi: nếu không “tiểu” thì đại nông thế nào đây? Để chớm “sản xuất lớn”, chí ít phải dồn số đất hiện có cho 10% nông dân. Vậy làm sao với khoảng 45 triệu người dôi ra? Phải chăng lại dùng lao động giá rẻ sản xuất hàng gia công? Nhưng tìm đâu ra nguyên vật liệu, năng lượng rồi thị trường giữa thời điểm đại suy thoái này? Hiện nay – cũng như nhiều giai đoạn lịch sử trước - chính cái tiểu nông đã cứu nguy đất nước. Sức ép thất nghiệp, đói khổ sở dĩ được giảm tải chính là nhờ cái nền, cái “túi” tiểu nông! Đã mấy ai hiểu được điều này: tiểu nông nuôi được nhiều người sống nghèo còn đại nông làm giầu cho số ít người mà đẩy số đông người vào bần cùng! Phải chăng là vô ơn là vong bản khi không chịu nhìn vào thực chất nền kinh tế dân tộc mà lại miệt thị nó theo con mắt giáo điều ngoại lai?

4.Về lối sống nước đôi

Những thói xấu của người Việt mà ông Đức nêu trong bài viết là có thực. Nhưng nếu chỉ căn cứ vào đó mà đánh giá cả dân tộc thì lại là cái nhìn hời hợt, phiến diện. Muốn biết dòng sông, phải tới tận nguồn. Muốn hiểu một dân tộc phải biết lịch sử! Lịch sử tộc Việt không phải 4000 năm như nhiều người vẫn tưởng mà những 70.000 năm. Không chỉ sáng tạo công cụ đá cuội mài đầu tiên trên thế giới, tổ tiên ta còn là người đầu tiên phát minh cây kê, cây lúa, xây dựng nền nông nghiệp rực rỡ nhất hành tinh... Sau hàng chục bài báo và hai cuốn sách*** về đề tài này, hôm nay tôi không muốn trở về quá khứ xa xôi mà chỉ nói tới lịch sử còn nóng hổi.

Một dân tộc sau gần trăm năm bị nô lệ, đứng lên giải phóng khỏi ách thống trị của đế quốc hàng đầu thế giới, tiếp đó lại chiến thắng cường quốc số một nhân loại nói lên điều gì? Chiến tranh là thách thức nghiệt ngã nhất đối với một dân tộc, thách thức mất còn! Bản thân chiến thắng nói lên sự ưu việt của kẻ chiến thắng! Sự ưu việt không ngẫu nhiên mà là tiếp tục từ xa xưa. Phân tích những yếu tố làm nên ưu việt ấy là khó, nhưng dễ nhận thấy là sự ưu việt xuất hiện khi cả dân tộc cùng chung một ý chí. Ý chí của Hội nghị Diên Hồng, ý chí của Toàn quốc kháng chiến. Khi đó cả dân tộc muôn người như một. Ý chí của lãnh đạo trở thành quyết tâm của cộng đồng.

Nhưng sau 1954, khi chuyên chính vô sản xác lập, nến đạo lý truyền thống với nhân, nghĩa, lễ, trí, tín bị chôn vùi để cái giả cái ác lên ngôi thì tình hình khác đi. Khi miếng cơm manh áo bị đe dọa, người dân buộc phải “thích ứng để tồn tại” theo cách của mình. Không thể chống chính sách hợp tác hóa, người dân dồn sức chăm sóc mảnh đất “phần trăm”. Với 5% diện tích, người nông dân tạo ra hoa lợi bằng 40% thu nhập! Đồng thời với tận dụng những cái có thể thu vén từ ruộng đất, vườn tược mà “kinh tế xã hội chủ nghĩa” chưa quản tới, để tự bảo toàn, người nông dân thực hành chiến thuật lãn công: “Quản trị tham ô tí tiền tí thóc, ông đội tham ô tí điểm tí rả, bọn tôi tham ô thí thì tí giờ”… Sự chống đối thầm lặng của hàng triệu nông dân làm phá sản chủ trương lớn hợp tác hóa nông nghiệp – xương sống của cái gọi là xã hội chủ nghĩa hoang tưởng! Không chỉ thế, chính người nông dân manh nha nền kinh tế trang trại, trở thành những người thầy thông minh, dũng cảm dạy cho ông Bí thư Kim Ngọc khoán chui! Và khi Khoán Mười ra đời – kết quả của việc lãnh đạo bị cuốn theo ý chí dân tộc - thì những người nông dân vật vờ như mất hồn lập tức vươn dậy, làm nên thần kỳ của cường quốc lúa gạo! Cũng vậy, khi được “cởi trói”, hàng vạn những tiểu thương, tiểu chủ từng bị “cải tạo”, bị tước đoạt trước đây trở mình làm sôi động nền kinh tế!

Sinh sau cuộc chống Pháp, không hiểu ông Đức có biết thành ngữ “Ấm ớ hội tề”? Thời đó, những vùng bị Pháp chiếm gọi là vùng tề. Người Pháp và ngụy quyền Bảo Đại lập hội tề ở các làng để cai trị. Phần lớn là tề hai mang: ban ngày là của Pháp, ban đêm Việt Minh về họp hành, thu thuế. Để sống còn, các ông hội tề buộc phải “Quan tám cũng ừ, quan tư cũng gật!” Thành ngữ “Ấm ớ hội tề” sinh ra từ đấy. Sau này ở trong Nam, câu “Ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản” cũng phản ánh thực tế tương tự. Đó là sự thích ứng của người Việt để sống còn và nhờ thế mà dân tộc được bảo tồn. Chính đặc tính này khiến cho ở Việt Nam không nảy sinh những hiện tượng cực đoan như chiến dịch săn chim sẻ, phong trào toàn dân làm gang thép rồi Cách mạng văn hóa…

Không chỉ là sự thích ứng theo thời cuộc mà trong chiều sâu văn hóa, đó còn là quan niệm chủ toàn của văn hóa nông nghiệp Việt tộc. Khoa học đã chứng minh rằng, người phương Tây, sản phẩm của văn minh du mục có lối nhìn phân tích, nhận biết nhanh những hiện tượng riêng biệt. Trong khi đó phương Đông với văn hóa nông nghiệp lại nhìn sự vật với cái nhìn tổng hợp, tức là nhìn sự vật trong quan hệ phức tạp vốn có của chúng. Đấy là cơ sở cho triết lý Phật giáo: sắc là không, không cũng là sắc! Điều này thể hiện tư duy siêu việt về nhận thức mà tiêu biểu là luận đề của Lão Tử: “Đạo khả đạo phi thường đạo. Danh khả danh phi thường danh.”

Cố nhiên, việc tồn tại quá lâu trạng thái sống đối phó “nước đôi” như hiện nay là tiêu cực. Nó dẫn tới những hệ lụy như ông Đức nêu ra. Vì vậy, công việc khẩn thiết là thiết lập nền dân chủ thực sự để người dân thể hiện được ý chí của mình. Khi được giải phóng, tư tưởng, trí tuệ Việt sẽ bừng nở.

Khi chưa hiểu dân tộc mình rồi dùng tư duy phương Tây để phê phán vùi dập không chỉ bất cập về văn hóa mà còn thiếu một tấm lòng!

5. Kết luận

Một thực tế rất đáng quan tâm là, không ít vị khoa bảng tân học, sau khi tiếp xúc sống sít với tư tưởng phương Tây liền quay lại miệt thị văn hóa dân tộc. Không khó hiểu điều này bởi lẽ họ thiếu cơ sở văn hóa Việt. Không hiểu lịch sử, văn hóa dân tộc nên họ không đủ bản lĩnh khi chọn lọc tiếp nhận văn hóa khác. Quả là nghịch lý, trong khi nhiều thức giả Âu Mỹ đang từ giã cánh đồng cằn cỗi của tư tưởng, triết học phương Tây, hành trình về tìm học khôn nơi minh triết phương Đông!

Tháng Bảy vừa qua, tại Hà Nội, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clintơn phát biểu: “Dân tộc Việt Nam là dân tộc vĩ đại!” Tôi nín thở nghe câu đó và mong chờ xem các nhà bình luận Việt Nam tiếp nhận nó ra sao? Không một tiếng vọng! Hình như câu nói đó không lọt tai ai?! Trước đây cựu ngoại trưởng nước Mỹ, ông Kissinger nói: “Người Mỹ thất bại vì không hiểu lịch sử, văn hóa Việt Nam.” Câu nói của bà ngoại trưởng hôm nay phải chăng là kết quả của những gì người Mỹ học được sau 35 năm? Chúng ta, vì chưa hiểu lịch sử, văn hóa của mình, vì thiếu tự tin (hơn là khiêm tốn), nên chưa ai dám nói: “Dân tộc Việt Nam là dân tộc vĩ đại.” Câu nói của vị trí thức hàng đầu nước Mỹ buộc chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc về tầm vóc của dân tộc.

Là người may mắn phiêu du tới chiều sâu của lịch sử và văn hóa Việt, tôi chia sẻ với ý tưởng của người đứng đầu nền ngoại giao Hoa Kỳ. Dù vô vàn những bộn bề trước mặt thì dân tộc Việt vẫn là dân tộc vĩ đại. Trong tương lai không xa, khi trật tự được lập lại, toàn dân một ý chí, chúng ta sẽ làm được những kỳ tích xứng đáng với tổ tiên cùng sự trông mong của nhân loại. Không chỉ tựa vào lịch sử mà niềm tin của tôi còn ở tâm linh và cả câu sấm Trạng Trình: Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ. Hưng tộ diên trường ức vạn xuân (Năm trăm năm sau, đất Hồng Lam sẽ hưng thịnh, vững bền ức vạn mùa xuân)

Sài Gòn, năm Canh Dần, ngày Trùng Cửu

* http://www.tuanvietnam.net/2010-09-24-nguoi-viet-co-thong-minh-khong
** http://tuanvietnam.net/2010-10-05-nguoi-viet-khon-hay-dai-
*** Hà Văn Thùy - Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt. NXB Văn học, 2007.
- Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.

Lại bàn về: Người Việt khôn ở đâu, dại ở đâu?
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,